Tiện ích
  Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 5462784
Đang trực tuyến: 75
   Tiêu điểm
Nâng cao tiêu chuẩn, chất lượng cán bộ, công chức làm công tác Mặt trận
Tăng cường nắm bắt và định hướng dư luận xã hội trên internet, mạng xã hội
Một số giải pháp cơ bản tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng của MTTQ Việt Nam
Hành Tín Tây trao sinh kế cho nạn nhân da cam
Đại hội Đại biểu MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi khóa XIV, nhiệm kỳ 2019 – 2024
Ngày đưa:  24/06/2019 09:05:28 PM
Phát huy vai trò tự quản của nhân dân, trên cơ sở thực hiện hương ước, quy ước ở khu dân cư

  

Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Nguyễn Hữu Dũng.

Xây dựng hương ước, quy ước phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phù hợp với các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản nhằm phát huy vai trò tự quản của nhân dân, kết hợp hài hòa giữa luật pháp và luật tục, hương ước, quy ước, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở cộng đồng dân cư: thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố… trên phạm vi toàn quốc (gọi chung là cộng đồng dân cư).

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/HNTW ngày 10/6/1993 về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn với chủ trương: “Khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, các quy chế về nếp sống văn minh ở các thôn xã”. Đây chính là nền móng cho việc xây dựng hệ thống thiết chế về hương ước, quy ước ở nước ta tại các cộng đồng dân cư. Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước. Chỉ thị nêu rõ: “Mở rộng các hình thức tổ chức tự quản để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ pháp luật những công việc mang tính xã hội hoá, có sự hỗ trợ của chính quyền, cơ quan, đơn vị (như việc xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, xây dựng tổ hoà giải, tổ an ninh, phong trào vệ sinh - môi trường, đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ người nghèo,…)”. Ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đã yêu cầu: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố dưới sự chủ trì của Mặt trận Tổ quốc và bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, sự quản lý của chính quyền”. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về việc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, như: Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT - CP- UBTUMTTQVN ngày 17/4/2008 giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hướng dẫn thi hành các Điều 11, Điều 14, Điều 16, Điều 22 và Điều 26 của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Thông tư 70/2007/TT-BNN ngày 1/8/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn; Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT - BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư; Thông tư liên tịch số 04/2001/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN-UBQGDS ngày 9/7/2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hóa gia đình hướng dẫn bổ sung Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-VHTT-BTTUBTƯMTTQVN xây dựng và thự hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư về việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình; gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg ngày 8/5/2018 “Về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước”, đã nêu rõ mục đích xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước: “Phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở. Bảo vệ, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp; hạn chế và từng bước loại bỏ phong tục, tập quán lạc hậu; xây dựng nếp sống văn minh trong cộng đồng dân cư”. Đồng thời, Quyết định đã quy định về các nguyên tắc, phạm vi nội dung và hình thức; các bước soạn thảo, thông qua, công nhận, sửa đổi, bổ sung, thay thế hương ước, quy ước; công tác thông tin, phổ biến hương ước, quy ước; trách nhiệm của hộ gia đình, cá nhân, việc kiểm tra, giám sát, theo dõi việc thực hiện hương ước, quy ước; trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp quản lý việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước... đảm bảo hợp hiến, hợp pháp, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc xây dựng các thiết chế quản lý tự quản ở nông thôn, điều chỉnh các quan hệ xã hội tại cộng đồng dân cư, thực hiện tối đa tinh thần mở rộng dân chủ ở cơ sở, giúp nhân dân tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, các địa phương đã tích cực triển khai thực hiện xây dựng hương ước, qui ước ở 125.083 thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, khu dân trên địa bàn cả nước. Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, trên địa bàn cả nước đã có 109.698 bản hương ước, quy ước được phê duyệt, chiếm tỷ lệ 87,7 %; 6.694 hương ước, quy ước đang trong quá trình phê duyệt; 3.260 hương ước, quy ước đang xây dựng hoặc chờ phê duyệt. Một số địa phương có 100% thôn, làng có hương ước, quy ước được phê duyệt, như: Bến Tre, Bạc Liêu, Bình Dương, Cà Mau, Đồng Nai, Hà Nam, Ninh Bình, Tuyên Quang1. Trên địa bàn thành phố Hà Nội, trước năm 1998 có một số hương ước cổ… Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ đổi mới, nhiều địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng chủ động xây dựng các bản hương ước, quy ước cho địa phương mình, tính đến nay, toàn thành phố có đến hàng trăm văn bản là hương ước, quy ước. Tính đến tháng 6/2018, Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 23.500 hương ước, quy ước được xây dựng và phê duyệt. Các hương ước, quy ước đã bám sát đời sống và tình hình thực tế của từng địa phương nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính tự quản của cộng đồng, xây dựng nếp sống văn hóa mới, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, thực hiện chính sách dân số, gia đình và trẻ em. Nhiều hương ước, quy ước đã thể hiện được trí tuệ, công sức của tập thể cộng đồng; đã khơi dậy, phát huy được những phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của làng, xóm, dòng họ; bố cục ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Hương ước, quy ước của một số khu dân cư nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, vùng sâu, vùng xa hoặc ở những địa phương có rừng, có thêm các nội dung bảo vệ, phát triển rừng, định canh, định cư, loại trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Đặc biệt, một số địa phương còn xây dựng và thực hiện các quy ước mang tính chuyên ngành, như: Quy ước bảo vệ và phát triển rừng (ở các tỉnh: Điện Biên, Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Lào Cai…), Quy ước về trồng, chăm sóc cây thảo quả (ở tỉnh Lào Cai). Việc xây dựng và phê duyệt hương ước, quy ước của thôn, làng cơ bản thực hiện theo đúng quy trình soạn thảo, thông qua, thẩm định và phê duyệt trước khi đưa vào triển khai thực hiện. Đa số hương ước, quy ước khi xây dựng đã đảm bảo phát huy dân chủ, có sự bàn bạc, thống nhất ý kiến của nhân dân tại cơ sở trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc soạn thảo hương ước, quy ước được các thôn, làng chủ trì thực hiện thông qua nhóm soạn thảo là những người có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín và kinh nghiệm sống, có trình độ văn hoá, hiểu biết về pháp luật và phong tục, tập quán ở địa phương. Dự thảo hương ước, quy ước sau khi xây dựng được gửi lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức liên quan; được nhân dân thảo luận và thống nhất thông qua. Phòng Tư pháp, Phòng Văn hóa - Thông tin ở nhiều địa phương đã thực hiện nghiêm túc trách nhiệm tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thẩm định, phê duyệt hương ước, quy ước. Các hương ước, quy ước sau khi được phê duyệt đã được phổ biến, quán triệt đến cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn bằng các hình thức khác nhau, như: phát đến từng hộ gia đình; phổ biến qua hệ thống truyền thanh của xã, phường, thị trấn; qua hội nghị của các ban, ngành, đoàn thể; niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng của thôn, làng; đặc biệt là thông qua các cuộc họp thôn, làng để phổ biến tới từng hộ gia đình triển khai thực hiện hoặc đã chuyển tải nội dung hương ước, quy ước sang hình thức thơ, vè để người dân dễ nhớ như ở một số cộng đồng dân cư tỉnh Quảng Nam. Việc theo dõi, giám sát thực hiện hương ước, quy ước được giao cho thôn, làng thực hiện, khi phát hiện ra những vi phạm hương ước, quy ước, đại diện cộng đồng sẽ trực tiếp nhắc nhở đối với những tranh chấp nhỏ tại cộng đồng và được giải quyết thông qua các tổ hòa giải. Công tác đánh giá, bình xét việc thực hiện hương ước, quy ước được thực hiện hàng năm trong các cuộc họp thôn, làng; trong Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc; trong sơ, tổng kết cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và quy chế dân chủ ở cơ sở.

 Việc phát huy vai trò tự quản của nhân dân thông qua các hương ước, quy ước là thiết chế có tác dụng hỗ trợ pháp luật khi Nhà nước chưa kịp ban hành pháp luật hoặc chưa cần thiết sử dụng pháp luật để điều chỉnh, được ví như “cánh tay nối dài” của pháp luật và cùng với pháp luật điều chỉnh một cách toàn diện các mối quan hệ phát sinh trong đời sống xã hội. Với số lượng lớn hương ước, quy ước đang áp dụng tại các thôn, làng cho thấy chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước trong thời gian qua là đúng đắn, đã được chính quyền các cấp và nhân dân ủng hộ, tích cực thực hiện rộng rãi trên phạm vi cả nước. Điều đó đã khẳng định rõ vị trí, vai trò và giá trị của hương ước, quy ước đối với việc quản lý xã hội tại cộng đồng dân cư. Hương ước, quy ước đã góp phần đưa chính sách và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; gìn giữ, phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư ở cơ sở; bài trừ các hủ tục lạc hậu; hình thành giá trị chuẩn mực xã hội phù hợp với truyền thống, bản sắc của địa phương; phát huy và mở rộng dân chủ ở cơ sở. Qua việc thực hiện hương ước, quy ước đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới; phát huy quyền tự do, dân chủ ở cơ sở, động viên, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ; giúp nhân dân tham gia, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.

Khắc phục hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện tự quản thông qua hương ước, quy ước

Thứ nhất, một số địa phương chưa nhận thức đầy đủ, chưa quan tâm đúng mức tới công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hương ước, quy ước trong tự quản cộng đồng thôn, làng. Một số nơi tuy đã xây dựng, phê duyệt hương ước, quy ước nhưng do làm chưa tốt công tác này nên việc thực hiện hương ước, quy ước còn mang tính hình thức, hiệu quả và tác dụng thực tế của thiết chế này đối với quản lý cộng đồng chưa cao. Tại một số địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tuy các luật tục đã được chọn lọc đưa vào hương ước, quy ước, nhưng chính quyền địa phương chưa thực hiện tốt việc tuyên truyền, giám sát, chấn chỉnh khi vi phạm hương ước.

Thứ hai, một số địa phương chưa chú trọng công tác chỉ đạo, hướng dẫn bảo đảm triển khai đồng bộ, thống nhất công tác xây dựng, quản lý, thực hiện hương ước, quy ước trên địa bàn. Việc chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện có lúc, có nơi chưa đầy đủ, nghiêm túc. Công tác phối hợp, phân công trách nhiệm, nhiệm vụ chưa rõ ràng, chưa kịp thời nắm bắt tình hình thực tế và đề ra giải pháp khắc phục các tồn tại, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn; chưa chú trọng kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng công tác quản lý, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.

Thứ ba, thực tế vẫn còn tình trạng hương ước, quy ước có nội dung vi phạm pháp luật, còn quy định việc xử phạt trái pháp luật, đã tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội và hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật. Nhiều hương ước, quy ước còn sơ sài về nội dung, sao chép, chưa thể hiện đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như phong tục tập quán, thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hóa riêng của mỗi thôn, làng. Hình thức hương ước, kỹ thuật soạn thảo, trình tự thủ tục xây dựng, ban hành nhiều nơi chưa theo quy định (chỉ thỏa thuận bằng miệng và thống nhất giữa đại diện lãnh đạo thôn, làng; chưa thông qua hội nghị, cuộc họp của cộng đồng. Công tác thẩm định, phê duyệt hương ước, quy ước của một số địa phương còn chậm, chưa bảo đảm chất lượng.

Thứ tư, một số địa phương còn chạy theo thành tích hoặc hành chính hóa việc xây dựng hương ước, quy ước; coi đây là nhiệm vụ của công chức tư pháp, hộ tịch, công chức văn hóa, xã hội, của cán bộ thôn, bản mà chưa huy động vai trò tích cực của nhân dân tham gia xây dựng, góp ý kiến trong quá trình soạn thảo dẫn đến hương ước, quy ước chưa thể hiện rõ những nét đặc trưng về văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, thuần phong, mỹ tục của mỗi thôn, làng; chưa sát thực với đời sống của người dân, nên ít nhiều làm giảm tính khả thi của hương ước, quy ước. Mặt khác, một số địa phương thực hiện xây dựng, phê duyệt hương ước, quy ước theo đợt, đồng loạt; sau khi tập hợp các dự thảo hương ước, quy ước, trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ban hành một quyết định phê duyệt toàn bộ các bản hương ước, quy ước đó nên dễ dẫn đến tình trạng các bản hương ước, quy ước sao chép, rập khuôn, chưa thể hiện được tính đặc thù của từng địa bàn cơ sở.

Thứ năm, các địa phương vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, giao thông đi lại khó khăn; một số địa phương tỷ lệ hộ nghèo cao, trình độ học vấn thấp và nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, tình hình di dân tự do, các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.

Thực hiện hương ước, quy ước, kết hợp hài hòa giữa luật pháp và luật tục, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở khu dân cư

Một là, nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước. Đặc biệt, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời của hệ thống chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở. Thực tế cho thấy, ở nơi nào cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận cơ sở coi trọng việc xây dựng hương ước, quy ước, quan tâm tới việc phát huy dân chủ ở cơ sở, khuyến khích hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, cùng với tinh thần trách nhiệm của công chức tư pháp, công chức văn hóa và cán bộ thôn, làng thì ở nơi đó, vai trò của hương ước, quy ước được phát huy và đem lại hiệu quả tích cực.

Hai là, chú trọng công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước; phát huy vai trò của trưởng bản, người cao tuổi, người có uy tín trong việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục đồng bào thực hiện hương ước, quy ước.

Ba là, xây dựng nội dung hương ước, quy ước cần ngắn gọn, dễ nhớ, thiết thực, phù hợp với đặc thù từng vùng, miền, từng dân tộc, từng tôn giáo,… phù hợp với lợi ích, nguyện vọng chung của cộng đồng dân cư. Tránh tình trạng xây dựng hương ước, quy ước theo phong trào, chạy theo thành tích.

Bốn là, chú trọng công tác đánh giá thực tiễn triển khai xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước để kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập để đề xuất sửa đổi, bổ sung. Thường xuyên quan tâm đến việc rà soát, phát hiện, sửa đổi hương ước, quy ước khi xảy ra tình trạng vi phạm, không còn phù hợp hoặc bổ sung những vấn đề, nội dung mới để đảm bảo yêu cầu thực tiễn.

Năm là, phát huy vai trò gương mẫu của đảng viên, cán bộ, công chức sinh hoạt ở các khu dân cư thực hiện hương ước, quy ước. Huy động nguồn lực của người dân và xã hội tham gia xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.

Nguyễn Hữu Dũng

Tiến sĩ, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam

(Nguồn: www.tapchimattran.vn)

   Các tin,bài khác  
Xem các tin khác
   Phim, tư liệu
   Xem tất cả  
  Các tin xem nhiều nhất
   Liên kết web
   Thăm dò ý kiến
Cuộc vận động bạn quan tâm nhất trên website là gì?
Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"
Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"
Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh"
Cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"